Thứ Sáu, 13 tháng 12, 2013



Xà Lách
Tên khác của Xà Lách: Lactuca sativa L. var. capitata L., thuộc họ Cúc – Asteraceae.
Miêu tả cây Xà Lách: Cây thảo hằng năm có rễ trụ và có xơ. Thân hình trụ và thẳng, cao tới 60cm, phân nhánh ở phần trên. Lá ở gốc xếp hình hoa thị; ở thứ trồng này, lá tạo thành búp dày đặc hình cầu; các lá ở thân mọc so le; lá có màu lục sáng, gần tròn hay thuôn, hình xoan ngược, lượn sóng, dài 6-20cm, rộng 3-7cm, mép có răng không đều. Cụm hoa chùy dạng ngù ở ngọn gồm nhiều đầu hoa, mỗi đầu có 20 hoa, hình môi màu vàng. Quả bế nhỏ, dẹp, có khía màu xám với mào lông trắng.
Thành phần hóa học của Xà Lách: Có lactucarium, lactucorin, lactucin, acid lactucic, asparagin, hyoscyamin, chlorophylle, vitamin A, B, C, D, E; các chất khoáng Fe, Ca, P, I, Mn, Zn, Cu, Na, Cl, K, Co, As, phosphat, sulfat, sterol, caroten.
Công dụng của Xà Lách:
- Có vị ngọt đắng, tính mát; có tác dụng giải nhiệt, lọc máu, khai vị (vào đầu bữa ăn, nó kích thích các tuyến tiêu hóa), cung cấp chất khoáng, giảm đau, gây ngủ, làm dịu, chống ho, chống đái đường, làm mềm, lợi sữa, dẫn mật, chống thối. Xà lách được chỉ định dùng làm thuốc trong các trường hợp thần kinh dễ bị kích thích, suy nhược tâm thần, đánh trống ngực, co giật nội tạng, chứng đau dạ dày, di mộng tinh, kích thích sinh lý, đau do lậu, Mất ngủ, thiếu chất khoáng, ho, ho gà, ho thần kinh, suyễn, đái đường, thống phong, tạng khớp, bệnh sởi, viêm thận, hành kinh đau bụng, vàng da, sung huyết gan, táo bón.
Giàu dưỡng chất
- Loại nào thì xà lách cũng là loại rau cải rất giàu chất dinh dưỡng. Cứ 100 gam xà lách sẽ cung cấp khoảng 2,2 gam carbohydrate, 1,2 gam chất xơ, 90 gam nước, 166 microgram vitamin A, 73 microgram folate (vitamin B9). Xà lách còn chứa rất nhiều muối khoáng với những nguyên tố kiềm, nhờ đó giúp cơ thể “dọn dẹp” máu, giúp tinh thần tỉnh táo và giúp cơ thể tránh được nhiều bệnh tật. Nước ép xà lách còn có tác dụng giải nhiệt. Do chứa một hàm lượng cao magnesium nên nước ép xà lách có một năng lực siêu phàm trong việc hồi phục các mô cơ, tăng cường chức năng não. Y học dân gian phương Tây cho rằng dùng dịch ép xà lách pha với tinh dầu hoa hồng thoa vào trán và thái dương sẽ giúp cắt những cơn đau đầu. Là một kho cung cấp chất xơ, giàu cellulose nên xà lách còn giúp ruột có thêm chút gì để… co bóp, nhờ đó giúp thoát khỏi tình trạng táo bón. Cải xà lách còn có một đặc tính “ăn tiền” khác là có thể giúp mang lại “giấc điệp” vì có chứa một chất gây ngủ là letucarium. Đối với bệnh nhân tiểu đường, xà lách là một loại thực phẩm lý tưởng vì thuộc nhóm rau cải có thành phần carbohydrate thấp hơn 3%. Xà lách còn chứa một hàm lượng đáng kể chất sắt nên là một loại thực phẩm rất tốt cho những người bị thiếu máu do thiếu sắt.
- Ngừa ung thư: Do có chứa nhiều beta-carotene nên xà lách được các nhà y học xem là một ứng cử viên tiềm năng trong việc ngăn ngừa ung thư, là “cây cao bóng cả” trong việc ngăn ngừa các bệnh tim mạch, thấp khớp, đục thủy tinh thể… Một nghiên cứu đã được thực hiện tại ĐH Y khoa Utah (Mỹ) cho thấy xà lách có thể làm giảm tần suất rủi ro bị ung thư ruột kết ở cả nam lẫn nữ, do trong cải xà lách có chứa một tác nhân kháng ung thư là lutein. Phụ nữ trong thời gian mang thai và cho con bú nếu ăn thường xuyên cải xà lách sẽ rất có lợi cho thai nhi và trẻ sơ sinh do trong xà lách chứa rất nhiều axit folic. Xà lách cũng là bạn tốt của giới mày râu vì có thể can thiệp, giảm “nỗi đau” của đàn ông do có tác dụng ngăn chặn xuất tinh sớm. Hỗn hợp dịch ép xà lách với rau dền Ý (spinach – hay còn gọi là rau bina) giúp đàn ông cải thiện tình trạng rụng tóc. Những phụ nữ muốn giảm cân đã chọn xà lách là một giải pháp vì có tác dụng làm đầy bao tử nên không có cảm giác đói. Do hàm lượng nước cao và các vitamin nên ăn xà lách còn giúp thực khách có một làn da tươi mát.
Bài thuốc từ Xà Lách:
- Điều trị hiệu quả bệnh thấp khớp, thống phong, ho hen và các rối loạn thần kinh: Với liểu dùng ½ thìa cà phê chiết xuất từ thân và lá xà lách tươi (hoặc dùng dịch của cây khô) trong ngày đầu, ngày thứ hai là 1 thìa cà phê, ngày thứ 3 là ½ thìa, những ngày sau đó liều dùng 5 thìa, rồi giảm dần trở lại là ½ thìa.
- Trị vết thương mụn nhọt, áp xe, bỏng: Xà lách đắp vết thương.
- Trị bệnh nấm: sắc nước rửa vùng bị nấm.
- trị ho: đắp lá liên tiếp vào ngực, vào lưng.

Thứ Năm, 12 tháng 12, 2013



1. Cà chua
- Cà chua được xem là phương pháp giảm cân mới nhất của phụ nữ Nhật, loại quả này mọng nước, giàu chất sơ và vitamin C, A, chứa lượng calo rất thấp và đặc biệt nó giúp bạn giảm được ít nhất 2kg trong 1 tháng.
- Để đảm bảo phát huy tốt hiệu quả, bạn nên ăn 1 quả cà chua trước mỗi bữa ăn, hoặc 2 quả cà chua trước bữa tối. Mặc dù cà chua giúp bạn giảm 2kg ngay trong tháng đầu tiên nhưng các chuyên gia dinh dưỡng Nhật khuyên bạn nên ăn liên tục trong 3 – 6 tháng để duy trì hiệu quả và tránh tăng cân trở lại sau khi ngừng ăn cà chua. Nên ăn 1 quả cà chua trước mỗi bữa ăn.
2. Nửa trái bưởi cho mỗi bữa ăn
- Các ngôi sao đã biết cách kiểm soát cân nặng của mình bằng cách thêm vào khẩu phần ăn mỗi ngày ½ quả bưởi hoặc 1 ly nước ép bưởi từ những năm 1930. Bưởi chứa rất nhiều nước, chất sơ, vitamin C, carbohydrate và giúp làm giảm lượng isulin trong cơ thể (isulin làm giảm quá trình đốt chất béo).
- Nếu tuân thủ chế độ ăn kèm ½ trái bưởi ( hoặc 1 ly nước ép bưởi) vào các bữa ăn trong ngày, đảm bảo trong vòng 12 tuần bạn sẽ giảm 3,5kg. Một biện pháp đáng quan tâm phải không! Nhưng nếu dạ dày của bạn có vấn đề, nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi áp dụng nhé.
3. Táo
- Bạn có tin rằng mình có thể không cần nhịn đói, không cần uống thuốc, không cần chi quá nhiều tiền cho thẩm mỹ viện mà vẫn có thể giảm từ 3 – 5kg chỉ với táo? Bạn nên tin vì điều đó đã được khoa học chứng minh.
- Táo là thực vật có nhiệt lượng thấp, khi bạn ăn nhiều táo, nhiệt lượng cơ thể hấp thu sẽ ít hơn rất nhiều so với khi bạn ăn những loại thực phẩm khác cùng trọng lượng, điều đó làm trọng lượng cơ thể tự nhiên của bạn giảm đi.
- Thực đơn giảm cân 3 ngày cùng táo như sau, bạn sẽ chỉ có táo và nước trong khẩu phần 3 bữa của mình, ngoài ra không có bất kỳ một loại thực phẩm nào khác, cứ ăn cho đến khi bạn cảm thấy no, và tốt nhất nên ăn táo đỏ (rửa sạch, gọt vỏ để tránh thuốc bảo quản). Sau 3 ngày đó, vị giác của bạn sẽ rất nhạy cảm, bạn nên tập ăn lại với các loại thực phẩm như cháo, đậu phụ… để lấy lại cân bằng cho hệ tiêu hóa.
4. Kiwi
- Kiwi có chứa một lượng vitamin C tương đối lớn, vì vậy nó luôn là sự lựa chọn hàng đầu của những phụ nữ thích làm đẹp. Kiwi là loại quả có chứa nhiều chất xơ nhất trong các loại hoa quả và chứa một lượng kali phong phú.
- Do đó, nó được xếp vào hàng các loại quả có mặt trong thực đơn giảm cân của phụ nữ. Enzyme phân giải protein của kiwi cũng rất mạnh, vì vậy dùng kiwi kết hợp với các món ăn có thịt là rất hợp lý. Bên cạnh đó, kiwi mang một chút chua đặc biệt rất có lợi cho cơ thể, giúp tiêu hóa dễ dàng, làm đẹp da. Tất cả phụ nữ đều có thể thưởng thức kiwi trong bốn mùa.
5. Đu đủ
- Không chỉ có tác dụng làm đẹp da, tốt cho tiêu hóa, ngừa ung thư, đu đủ còn có thể giups phái đẹp giảm cân hiệu quả. 100g đu đủ chỉ chứa không đầy 32 calo, nếu ăn 100g đu đủ trước bữa ăn, bạn sẽ bớt thèm ăn cơm và các món giàu calories khác. Bên cạnh đó, đu đủ chứa rất nhiều vitamin B cùng chất chống oxy hóa giúp vòng eo của bạn trở nên thon gọn hơn.
6. Rong biển
- Chúng ta thường thấy rong biển xuất hiện trong các món ăn của người Nhật, khi ăn kèm với các thực phẩm khác, rong biển đem đến cảm giác ngon miệng và làm tăng hương vị của món ăn. Không những thế, rong biển giúp giảm cân khá hiệu quả, nó tạo thành 1 mảng bám ở thành bao tử giúp người ăn có cảm giác no giả. Chất sơ trong rong biển cũng giúp cơ thể rất nhiều trong việc ngăn hấp thu những chất béo trong thức ăn nhanh.
7. Ngũ cốc
- Các chuyên gia dinh dưỡng tin rằng, 2 bát ngũ cốc mỗi ngày là chìa khóa cho việc giảm cân của bạn. Nghiên cứu cho thấy, bột ngũ cốc chứa hàm lượng sắt, kẽm và folic rất cao có khả năng làm giảm lượng chất béo trong cơ thể, bằng chứng là những người tham gia nghiên cứu sử dụng đều đặn ngũ cốc 2 lần 1 ngày đã giảm được 1,8kg trong 6 tuần.
8. Cải bó xôi
- Lại thêm một loại thực phẩm rất tốt cho bạn trong cơn đói, bạn có thể ăn thật nhiều rau bó xôi mà không hề sợ nạp vào cơ thể nhiều calories. Thành phần chất sơ cao, nhiều vitamin, chất khoáng và chất chống oxy hóa, bạn nên bổ sung món ăn này vào thực đơn hàng ngày của mình, nếu muốn có một cơ thể thon gọn và làn da đẹp.
9. Trứng
- Lưu ý là bạn chỉ nên ăn 1 quả trứng luộc trộn với salad vào mỗi sáng, trứng chứa rất nhiều protein nhưng lại rất ít calo và chất béo. Đừng ăn trứng vào buổi tối, vì thành phần protein cao cũng khiến bạn khó tiêu hơn, đặc biệt là không nên ăn trứng rán, vì khi ấy lượng dầu mỡ bạn đưa vào cơ thể là rất lớn.
10. Nước ép trái cây
- Đừng ép cơ thể vào một thực đơn kiêng khem gắt gao, nó khiến bạn rơi vào trạng thái shock tạm thời do thiếu chất. Hãy bắt đầu bằng việc dùng nhiều nước ép trái cây tươi, trong nước ép trái cây có một lượng vitamin, chất khoáng và lượng đường tự nhiên giúp cơ thể giảm đi cảm giác thèm ăn, và chống lại cơn đói. Bên cạnh đó, nước ép trái cây sẽ giải phóng bớt lượng mỡ thừa. Bạn chỉ nên dùng nước ép trái cây tươi.
- Mặc dù các loại thực phẩm trên rất tốt cho sức khỏe và hỗ trợ đắc lực cho việc giảm cân, nhưng bạn nên nhớ một quy tắc không thể thiếu trong việc duy trì trong lượng cơ thể đó là phải kết hợp với việc tập luyện vận động cơ thể đều đặn, không ăn vặt và tránh các thức ăn nhiều dầu mỡ.

Chủ Nhật, 8 tháng 12, 2013




Vông Nem
Tên gọi khác của Vông Nem: Hải đồng bì, thích đồng bì Vông nem. Tên khoa học là: Erythrina variegata L., thuộc họ Ðậu – Fabaceae.
Miêu tả cây Vông Nem: Cây to cao tới 10m, vỏ xanh rồi nâu, có nhiều gai ngắn. Lá mọc so le, có 3 lá chét hình tam giác. Vào tháng 3-5, sau khi lá rụng, cây ra hoa. Chùm hoa dày gồm nhiều hoa màu đỏ chói. Quả đậu không lông, có eo giữa các hạt. Hạt hình thận, màu nâu.
Công dụng của Vông Nem: Lá Vông nem có vị đắng nhạt, hơi chát, tính bình; có tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương, làm an thần, gây ngủ, hạ nhiệt, hạ huyết áp, co bóp các cơ. Ðông y cho là nó còn có tác dụng sát trùng, tiêu tích, trừ phong thấp. Vỏ cây có tác dụng khư phong thông lạc, sát trùng, làm tê liệt, trấn tĩnh. Thường dùng chữa tim hay hồi hộp, ít ngủ hoặc mất ngủ, trẻ em cam tích, viêm ruột ỉa chảy, Kiết lỵ, viêm da, lở chảy nước, phong thấp, chân tê phù, ung độc.
Bài thuốc từ Vông Nem:
- Chữa mất ngủ: Lá vông tươi 20g, rửa sạch, vò qua, vẩy khô hấp vào nồi cơm sau khi cạn (có thể đun làm nước uống). Trước khi đi ngủ, ăn vài lá vông này, ngủ sâu giấc.
- Chữa đau nhức xương khớp do phong thấp: Vỏ vông, Ngũ gia bì, Kê huyết đằng, Phòng kỷ, cỏ xước, Ý dĩ nhân mỗi vị 15g, sắc uống.
- Chữa lòi dom: Lá vông và lá sen giã nát lấy nước uống; bã chưng nóng rịt vào hậu môn.
- Chữa mồ hôi trộm ở trẻ em: Dùng 20g lá vông, giã nát, nhào chút nước nóng cho trẻ uống, hoặc đun lá vông lên uống.
- Chữa sau đẻ máu sẫm, choáng đầu, mờ mắt: Vỏ vông già, lá Mần tưới, cỏ Mần trầu, Ngưu tất, mỗi vị 10g sắc uống.
- Chữa chảy máu mũi, đại tiện ra máu: Lá vông phối hợp với lá sen sắc uống.
- Chữa chảy máu mũi, đại tiện ra máu, hoặc lòi dom: Lá vông 30g, lá sen 10g giã, vắt lấy nước cốt uống, nếu bị lòi dòm thì lấy bã đắp vào.
- Chữa phong thấp, chân tê phù: Vỏ cây vông, vỏ Chân chim, Kê huyết đắng, Phong kỷ, Ý dĩ sao, Ngưu tất, mỗi vị 5g, sắc uống ngày 3 lần. Uống khoảng 10 ngày.
- Chữa kinh nguyệt không đều, rong kinh: Hoa vông 15g sắc uống hằng ngày, khoảng 1 tuần – 10 ngày.
- Chữa sa dạ con: Lấy lá vông 30g, lá tiểu kế 20g, hạt Tơ hồng 20g, giã nhỏ, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm hai lần trong ngày; kết hợp lấy 10 hạt Thầu dầu tía, giã nát với giấm, đắp và băng lại.
- Chữa tiêu độc sát khuẩn: Dùng lá tươi giả nát đắp vào mụn nhọt, còn có tác dụng lên da non; chữa sốt, thông tiểu.

Thứ Ba, 3 tháng 12, 2013

Trái Tắc
Tên khác của Tắc: Ở Đông Nam Bộ Việt Nam gọi là tắc, Tây Nam Bộ gọi là hạnh. Tên khoa học gồm danh pháp hai phần: Citrus japonica.
Thành phần hóa học của Tắc: Pectin 10%, vitamin C 0,13-0,24mg%, Fe 5,1mg%. Cu 0,8mg%, đường, acid hữu cơ và chất fortunelin. Vỏ quả quất chứa tinh dầu gồm 25 thành phần, trong đó cóa-pinen 0,4%, b -pinen 2,7%, sabinen 2,8%, limonen 8,4%, b-ocimen 0,3%, linalol 1,55.
Công dụng của trái Tắc: Trái Tắc (Quất) vị chua ngọt, tính ấm, có tác dụng chữa ho do phong hàn, các bệnh đường tiêu hoá (đầy tức vùng thượng vị, đau dạ dày, nôn mửa, chán ăn), đau bụng hoặc sa dạ con sau sinh… Các bộ phận khác của cây quất như lá, rễ, hạt cũng được dùng làm thuốc. Lá quất vị cay đắng, tính lạnh, có tác dụng thư can (điều hoà, cải thiện chức năng gan), khai vị khí (kích thích tiêu hoá), thông phế khí, chống nôn, nấc, tiêu hạch.
Bài thuốc từ trái Tắc:
- Chữa ho (nhất là ho ở trẻ em): Quả quất chín (loạibỏ những quả đã ủng nhũn) 10g, rửa sạch, cho vàochén cùng với ít đường phèn hoặc mật ong, đem hấp chín trong 15-20 phút. Nghiền nát, để nguội, cho trẻ uống làm 3 lần trong ngày. Dùng 3-4 ngày. Có thể phối hợp với hoa hồng bạch 10g và hạt chanh 10g. Cách làm và dùng như trên.
- Chữa hậu sản, phù nề, vàng da: Quả quất non 50g, nghệ vàng 100g, nghệ đen 100g, hương phụ 100g, cặn nước tiểu 5g. Tất cả thái mỏng, phơi khô, tán bột mịn, trộn với mật ong làm viên bằng hạt ngô. Ngày uống 10 viên.
- Nước giải khát có tác dụng bổ, dễ tiêu: Quả quất chín 1kg rửa sạch, để ráo nước. Dùng kim sạch châm sâu vào quả 5-6 lỗ, rồi cho vào lọ rộng miệng cùng với đườngkính 2kg; cứ một lớp quất lại một lớp đường. Đậy kín, để trong 7 ngày, được dịch quất đường (sirô quất) màu vàng, mùi thơm. Khi dùng, lấy 1-2 thìa to sirô này pha với 150ml nước đun sôi để nguội, khuấy đều mà uống.
- Chữa ho lâu ngày không khỏi: Hạt quất 10g, lá thạch xương bồ 10g, hạt chanh 10g, mật gà đen 1 cái. Tất cả để tươi, giã nát, thêm đường, hấp cơm, uống làm 2-3 lần trong ngày.
- Chữa nôn ra máu: Hạt quất 1 chén nhỏ, bóc bỏ vỏ, lấy nhân, sao vàng, giã nhỏ, sắc uống làm 2 lần trong ngày.
- Đau họng, miệng khô, răng đau, lưỡi tê: Trái quất 500 g thái thành lát, phơi khô, cho vào lọ cùng 250 g chè xanh, đậy kín, để trong 1 tháng. Mỗi ngày dùng 25 g nước cốt hoà với nước ấm, chia 2-3 lần uống trong ngày. Bài thuốc này còn có tác dụng giải rượu.
- Đại tiện khó khăn, bụng trên đầy trướng: Trái quất 50 g, sắc uống trong ngày.
- Dạ dày đau, thượng vị đầy tức, nấc, ợ hơi, chán ăn: Trái quất 500 g thái lát, trộn đều với 500 g đường kính trắng, cho vào lọ kín trong 2 tuần. Mỗi ngày 25 g nước cốt hoà với nước ấm, chia nhiều lần uống, dùng liên tục trong nhiều ngày.
- Chữa chán ăn và đầy bụng, khó tiêu: Trái quất 100 g ngâm trong 500 ml rượu trắng thấp độ, sau 2 tuần mang ra dùng. Trước mỗi bữa ăn, uống 15-20 ml, dùng liên tục trong nhiều ngày.
- Chữa nôn do bệnh lý dạ dày: Rễ quất, hoắc hương, thích lê tử, rễ đông quỳ mỗi thứ 15 g, sắc uống trong ngày.
- Chữa viêm loét dạ dày, tá tràng: Rễ quất 30 g rửa sạch, thái thành từng đoạn ngắn; dạ dày lợn 150 g thái miếng. Cho 2 thứ cho vào nồi, thêm nước (hoặc nửa nước nửa rượu) hầm chín, nêm gia vị, ăn cả cái lẫn nước. Bài thuốc này có tác dụng chữa viêm loét dạ dày – tá tràng thể can khí phạm vị. Biểu hiện là thượng vị đau trướng, cơn đau lan ra 2 bên mạn sườn (đau tăng khi ấn vào), buồn nôn, ợ hơi, ăn khó tiêu, trung tiện được thì dễ chịu, đại tiện khó khăn, tinh thần uất ức, rêu lưỡi trắng dày.
- Tiểu tiện nhỏ giọt, nước tiểu lẫn máu: Rễ quất 30 g, đường phèn 15 g, sắc với nước uống trong ngày.
- Thuỷ thũng: Rễ quất 60 g, nghể (cành và lá) 30 g, vỏ bưởi (để qua mùa đông) 120 g, sắc uống trong ngày.
- Chữa âm nang sưng đau: Rễ quất 60 g, chỉ xác 15 g, tiểu hồi hương 30 g, sắc với nước (cho thêm chút rượu), uống ngày 3 lần.
- Sa tử cung: Rễ quất 90 g, hoàng tinh sống 30 g, rễ tiểu hồi hương 60 g, dạ dày lợn 1 cái. Tất cả hầm với một phần nước một phần rượu, chia 2 phần ăn trong ngày.
- Đau bụng dưới sau đẻ: Rễ quất 120 g, nấu với rượu uống.
- Hồi phục sức khỏe: sau những buổi đi chơi, nếu cảm thấy tay chân mỏi mệt, hãy ngâm chân trong chậu nước ấm có để thêm từ hai – bốn trái tắc cùng lá hoa hồng. Dùng chân day quả tắc để xoa bóp huyệt chân. Quả tắc mềm dần, dịch từ trái tiết ra sẽ làm sạch bàn chân, cánh hoa hồng giúp da chân mịn màng, người sẽ cảm thấy khỏe lại nhanh chóng.


Cách chế biến món ăn, thức uống tốt từ tắc:
- Cách làm thuốc đơn giản trị ho: chỉ cần cắt đôi từ bốn – năm quả tắc cho vào một cái chén có nắp rồi rắc đường phèn (nếu thích ngọt thì rắc nhiều một chút), đem hấp cách thủy trong khoảng 15 phút.
- Pha tắc như pha nước chanh để công dụng thanh nhiệt, giải khát, tiêu thực trừ đờm, giả rượu, rất tốt cho hệ tiêu hóa và hệ hô hấp.
- Làm xi rô: Dùng kim đâm vào quả tắc năm tới sáu lỗ rồi cho vào lọ cùng với đường kính. Cứ một lớp tắc rải một lớp đường, đậy kín, để chỗ mát trong bảy ngày sẽ có xi rô màu vàng rất thơm. Khi dùng, chỉ cần pha thêm nước và đá.
- Làm Tắc muối: Cho Tắc vào hũ muối đã trộn đều với cam thảo, sắp vào đáy lọ một lớp muối, rồi một lớp tắc, cứ thế đến khi hết tắc. Nhớ phải sắp tắc cách miệng hũ 5cm, dùng vài thanh tre dằn lên trên mặt tắc sao cho khi trong hũ dậy nước, tắc sẽ không nổi lên mặt nước muối. Đậy kín hũ, phơi nắng mỗi ngày cho đến khi tươm nước. Tắc muối đẹp sẽ ửng sắc vàng nâu thơm mùi cam thảo và có vị đậm đà.
- Làm mứt Tắc: Làm mứt này khá công phu vì phải gọt một lớp mỏng vỏ, sau đó dùng cây lấy hột, ngâm vôi một đêm rồi sên với đường. Mứt tắc ngon là phải còn nguyên trái. Cách làm đơn giản hơn là xắt chỉ trái tắc ra rồi sên với đường. Khi đi làm về mệt mỏi, chỉ cần lấy tắc ra pha với nước nóng hoặc lạnh là có ngay nước vừa giải khát vừa phòng bệnh.
nước vừa giải khát vừa phòng bệnh.
nước vừa giải khát vừa phòng bệnh.

Thứ Hai, 4 tháng 11, 2013

ung thu vu va cach dieu tri Phương pháp phòng tránh bệnh ung thư vú và điều trị
Cách phòng và điều trị ung thư vú hiệu quả.
Cách phòng và điều trị ung thư vú, Sau ung thư cổ tử cung thì ung thư vú được coi là bệnh phổ biến và gây nguy hiểm cho người phụ nữ, đồng thời nam giới cũng có thể mắc bệnh ung thư vú. Đây là căn bệnh phổ biến trên thế giới nhưng nhờ sự phát triển của khoa học kĩ thuật mà căn bệnh đã có thể giảm tránh được mức độ tử vong cho người bệnh nếu được phát hiện kịp thời.
Cách phòng bệnh ung thư vú.
Khi tới tuổi trưởng thành, nhất là khi bước vào tuổi 25 – 30 tuổi thì hãy nên tự theo dõi kiểm tra vú và kiểm tra sức khỏe theo định kì để phát hiện sớm bệnh ung thư vú.
Có chế độ luyện tập thể dục, thể thao đều đặn nghỉ ngơi hợp lí để có sức khỏe và sức đề kháng tốt.
Chế độ ăn đầy đủ dinh dưỡng, tăng cường rau xanh và hoa quả tươi, giảm mỡ trong bữa ăn hàng ngày.
Tránh xa thuốc lá, giảm rượu bia, các chất kích thích, tránh xa các môi trường ô nhiễm bụi bẩn hoặc nếu phải làm việc ở môi trường ô nhiễm cần đeo khẩu trang và có sử dụng quần áo bảo hộ cẩn thận.
Cho con bú thường xuyên ngay sau khi sinh càng sớm càng tốt, hạn chế cai sữa sớm cho con.
Phẫu thuật điều trị ung thư vú.
- Cắt bỏ khối u.
- Cắt bỏ toàn bộ vú.
- Cắt bỏ toàn bộ vú tiết kiệm da.
- Cắt bỏ toàn bộ vú có tái tạo vú.
Sau khi tìm hiểu và lựa chọn phương pháp phẫu thuật, người bệnh sẽ được chuyển sang mức điều trị mới là:
- Xạ trị: dùng tia phóng xạ để tiêu diệt các tế bào ung thư còn sót lại trong vú hay thành ngực sau khi phẫu trị.
- Hóa trị: sử dụng thuốc chuyên biệt để tiêu diệt các tế bào ung thư ở bất cứ nơi nào trong cơ thể.
- Điều trị nội tiết: sử dụng các hormone nhằm ngăn chặn các chất nội tiết khác gây ra ung thư vú.
Các cây thuốc có khả năng phòng tránh và chữa trị ung thu vú.
- Cải bắp, bông cải xanh và cải lá xanh đậm có khả năng cải thiện tỷ lệ sống sót ở bệnh nhân ung thư vú.
Đó là nội dung báo cáo được đệ trình tại hội nghị Hiệp hội Nghiên cứu Ung thư Mỹ ở Chicago vào ngày 3/4, theo AFP. Cuộc nghiên cứu trên được thực hiện tại Thượng Hải, Trung Quốc, với sự tham gia của 4.886 người nằm trong độ tuổi 20 đến 75 từng được chẩn đoán mắc ung thư vú từ năm 2002 đến 2006. Kết quả cho thấy nguy cơ tử vong ở nhóm ăn nhiều cây họ cải trong suốt 36 tháng sau khi được chẩn đoán giảm từ 27 đến 62% so với nhóm không hoặc ít ăn cải. Khả năng tái phát khối u cũng giảm đi từ 21 đến 35% ở nhóm ăn nhiều cải. Chuyên gia Sarah Nechuta của đại học Vanderbilt (Mỹ) cho hay thông qua cuộc nghiên cứu trên, người mắc ung thư vú nên cân nhắc chế độ ăn nhiều cải lá xanh đậm hoặc cải bắp và bông cải xanh để tăng cường khả năng sống sót. Cuộc nghiên cứu kế tiếp sẽ tập trung vào các hợp chất hoạt tính sinh học có trong cải lá xanh, gồm isothiocyanates và indoles, cũng như liều lượng của những chất này để tấn công hiệu quả tế bào ung thư.
- Rau mùi tây
Tuy nhiên, apigenin không ngăn chặn được sự hình thành ban đầu của các tế bào ung thư vú. Hyder tin rằng phát hiện này có tác động tích cực đến những phụ nữ đang điều trị bằng liệu pháp thay đổi nội tiết tố. Apigenin phổ biến nhất trong rau mùi tây, cần tây và cũng có thể được tìm thấy trong quả táo, cam, quả hạch và các sản phẩm thực vật khác. Tuy nhiên, do apigenin không hấp thu vào máu một cách hiệu quả, do đó các nhà khoa học chưa đưa ra liều lượng cụ thể cho con người. Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng để xác định liều lượng thích hợp đang được tiếp tục tiến hành.

Thứ Năm, 31 tháng 10, 2013

cong dung cua me den va bai thuoc 1 Công dụng của Mè Đen và bài thuốc
Mè Đen
Tên khác của Mè Đen: Vừng đen, mè. Đông y gọi là Chi ma, Hồ ma, Hồ ma nhânVị thuốc Vừng đen là tên gọi ở miền Bắc, miền Nam gọi là mè, tên khoa học là Sesamum indicum; Đông y gọi là Chi ma, Hồ ma, Hồ ma nhân, du tử miêu, cự thắng tử, bắc chi ma.
Công dụng của Mè Đen: Bổ gan, thận, nhuận ngũ tạng, làm đen tóc, bổ dưỡng cường tráng. Chủ yếu dùng cho gan, thận yếu, tay chân yếu cứng nhắc, hư phong, mắt mờ, yếu sau khi ốm dậy, tuổi già ho hen, thiếu sữa, thần kinh suy nhược, sớm bạc tóc, huyết áp cao, bệnh mỡ bọc tim.
Bài thuốc từ Mè Đen:
- Gan, thận yếu, mắt mờ, da mờ, táo bón: Lá dâu tằm (phơi sương bỏ cuống, phơi khô), vừng đen (rang) lượng bằng nhau. Xay thành bột, luyện với mật ong làm viên hoàn. Ngày ăn hai lần. Mỗi lần 6-9g. Có thể ăn lâu dài.
- Người đẻ thiếu sữa: Vừng đen rang chín giã nhỏ, cho thêm tí muối; Hoặc vừng đen 250g rang chín giã, nấu chân giò lợn nhừ mà ăn với vừng. Ngày ba lần, mỗi lần 16g.
- Trĩ sưng đau: Vừng đen đun kỹ đem rửa chỗ đau.
- Bị côn trùng cắn: Vừng đen xay nhỏ đắp ngoài.
- Trẻ con đầu bị chốc: Vừng đen sống xay thành cao đắp vào chỗ đau. Vừng trắng có thể dùng chữa được.
- Nhuận phế giải phiền, trơn ruột thông tiện: a/ vừng trắng 60-90g đun thành canh, cho thêm mật ong vừa lượng mà ăn; b/ vừng, táo tàu mỗi loại 60g, hạnh nhân 15g, ngâm nước sau đánh nhuyễn đun chín cho thêm đường mà ăn.
- Dạ dày tiết nhiều chất chua: Vừng đen đủ lượng rang lên nhấm ăn.
- Lao phổi: Vừng, nhân hạt óc chó mỗi thứ 250g cùng giã nát cho thêm mật ong khoảng 250g, đánh đều làm viên. Mỗi viên khoảng 9g. Mỗi ngày ba lần. Mỗi lần một viên.
- Tuổi già ho hen: Vừng 250g (rang), gừng sống 125g (ép lấy nước bỏ bã), dỉ đường, mật ong 125g (trộn đều nhau). Trộn vừng và nước gừng với nhau đánh đều, đem nấu một lần nữa. Sau khi nguội, trộn với dỉ đường và mật ong cho đều, bỏ vào lọ dùng dần. Ngày hai lần, mỗi lần một thìa canh. Uống với nước sôi vào sáng và tối.
- Trẻ con biếng ăn: Vừng rang, nhị sửu rang mỗi thứ 30g, giã bột trộn cơm cho trẻ ăn. Trẻ một tuổi mỗi lần 1,5g. Cứ lớn hơn một tuổi thì thêm 1g.
- Đầu sớm bạc, tóc khô: Vừng, hà thủ ô (đã chế biến) lượng làm bằng nhau cùng xay thành bột, thêm mật ong vừa đủ quấy đều làm hoàn. Mỗi viên 6g. Ngày ba lần, mỗi lần một viên. Ăn sau khi ăn cơm. Dùng liền mấy ngày.
- Yếu sau khi ốm dậy, táo bón đau bụng chân tay yếu: Vừng đen rửa sạch, sẩy sạch, hong khô, rang chín, giã nhỏ, cho thêm mật ong đủ lượng quấy đều. Ngày ăn hai lần. Mỗi lần 10g. Dùng liên tục.
- Bí đại tiện: Vừng 150g, ruột quả óc chó 100g, đun chín đánh nhuyễn mà ăn, ngày một lần.
- Đi ngoài ra máu: Vừng, đường đỏ lượng bằng nhau. Rửa sạch vừng phơi khô rang vàng cho vào đường trộn đều. Ăn tùy thích.
- Chống suy lão: Vừng (rang), bột phục linh, lượng bằng nhau. Dỉ đường vừa đủ, đun cho chảy ra, cho vừng và bột phục linh đánh đều, làm thành cục nhỏ. Mỗi cục 30-40g. Sau khi ăn sáng thì ăn một miếng. Có thể sao vàng vừng lên, giã thành bột cho phục linh và đường vào, luyện với mật ong. Mỗi lần dùng 20-30g.
- Ho khan: Vừng đen 120g, đường trắng 30g, rang lẫn để ăn.
- Viêm khí quản mạn tính: vừng 100g, gừng sống 50g cùng giã nát, vắt lấy nước. Uống đều.
- Huyết áp cao: Vừng đen, đậu xanh với lượng bằng nhau. Đem rang, nghiền bột. Mỗi ngày hai lần, mỗi lần 50g. Uống với nước.
- Động mạch bị cứng, bệnh tim bị bọc mỡ: Vừng vàng, táo tầu có lượng bằng nhau. Đem vừng rang, giã nhỏ. Táo chín bóc bỏ vỏ và hạt. Đánh nhuyễn trộn với vừng thành viên hoàn. Mỗi ngày hai lần. Mỗi lần 6g, ăn liên tục.

Thứ Tư, 9 tháng 10, 2013

cong dung cua rau ram va bai thuoc 1 Công dụng của rau Răm và bài thuốc
Rau Răm
Công dụng của rau Răm: Rau răm là một loại dược liệu quý có vị cay nồng, mùi thơm hắc, tính ấm. Rau răm khi ăn sống thì ấm bụng, tiêu thực, kích thích tiêu hóa, sát trùng, tán hàn. Rau răm làm sáng mắt, ích trí, mạnh gân cốt, trị co gân (chuột rút), chữa dạ dày lạnh, đầy hơi, đau bụng, kém ăn, tiêu chảy. Rau này còn dùng chữa sốt, làm thuốc lợi tiểu, chống nôn, chữa bệnh ngoài da (hắc lào, sâu quảng), rắn cắn. Nhờ có vị cay, tính ấm, tiêu thực, kích thích tiêu hóa nên rau răm thường được dùng ăn cùng trứng vịt lộn, thịt bò, thịt gà, cháo trai, hến để giúp ngon miệng, làm ấm tì vị.
Những điều cần chú ý về rau Răm: Ăn rau răm nhiều sinh nóng rét, giảm tinh khí, thương tổn đến tủy, suy yếu tình dục. Phụ nữ những ngày có kinh nguyệt không nên ăn rau răm vì dễ bị rong huyết. Rau răm không độc nhưng nếu dùng thường xuyên với số lượng nhiều sẽ làm giảm tình dục cả ở đàn ông lẫn đàn bà, phụ nữ có thể trở nên vô kinh. Do vậy, người tu hành thường sử dụng rau răm để tránh những cơn bốc dương.
Bài thuốc từ rau Răm:
- Mùa hè say nắng: Giã rau răm tươi, vắt cốt đun sôi uống.
- Chữa kém ăn: Rau răm dùng theo gia vị hoặc sử dụng cả cây 10-20 g sắc uống sau bữa ăn.
- Chữa đau bụng, đầy hơi, lạnh bụng, nôn mửa, say nắng, khát nước: Lấy nước ép rau răm tươi thân đỏ 25-30 ml/lần/ngày, uống 2 lần.
- Chữa hắc lào, ghẻ lở, sâu quảng: Rau răm toàn cây ngâm rượu. Lấy rượu đó bôi hoặc giã nát xát, còn bã đắp rồi băng lại.
- Chữa bỗng dưng đau tim không chịu nổi: Dùng rễ rau răm 50 g sắc rồi chế thêm một chén rượu vào uống, mỗi lần 1 chén.
- Chữa tê bại, vết thương bầm tím sưng đau: Rau răm tươi giã nát trộn với long não hoặc dầu long não, xoa hoặc băng vào các nơi tê đau.
- Chữa rắn cắn: Rau răm dùng tươi cả cây nhai nuốt (hoặc giã nát vắt lấy nước cốt uống), lấy lá đắp vào vết thương. Có thể lấy 20 ngọn rau răm tươi giã nát, vắt nước uống, bã đắp vết cắn.
cong dung cua ngai cuu va bai thuoc 1 Công dụng của Ngải Cứu và bài thuốc
Ngải Cứu
Tên khác của cây Ngải Cứu: Ngải cứu còn gọi là ngải diệp, tên khoa học là Artemisia vulgaris L. thuộc họ cúc.
Miêu tả cây Ngải cứu: Cây ngải cứu là cây thuốc thuộc một cỏ sống lâu năm, cao 0,04 – 1,5m, lá mọc so le, rộng, không có cuống (những lá phía dưới cây thường có cuống), lá xẻ nhiều kiểu, từ lối xẻ lông chim đến lôi xẻ từng thùy theo đường gân. Mặt trên lá tương đối nhẵn, màu xanh lục, mặt dưới màu tro trắng do có rất nhiều lông nhỏ. Trắng, khi khô lá mặt trên hơi xám nâu, nhưng mặt dưới vẫn trắng. Hoa mọc thành chùm, xim, rất nhiều đầu trạng. Vò nát có mùi thơm hắc. Cụm hoa hình đầu nhỏ, màu vàng lục nhạt, mọc tập trung thành từng chùm kép ở đầu cành. Quả bế nhỏ, không có túm lông. Mùa hoa tháng 10 – 11.
Thành phần hóa học của Ngải Cứu: Lá ngải cứu chứa tinh dầu (trong đó chủ yếu là Cineol, a – thuyon). Ngoài ra còn có tanin, một ít adeni, cholin. Cả cây chứa tinh dầu, thành phần chủ yếu là cineol, α-thuyon, dehydro matricaria este, tetradecatrilin, tricosanol, arachyl alcol, adenin, cholin.
Công dụng của cây Ngải Cứu: Ngải cứu có tính ôn, hơi cay, dùng điều trị đau bụng kinh, kinh nguyệt không đều, động thai, thổ huyết.
Bài thuốc hay từ cây Ngải Cứu: Cấm kị Không nên dùng dài ngày. Người nhiệt âm hư không dùng, người cao huyết áp do âm hư hoả vượng, không có hàn thấp, thai sản bình thường không dùng.
- Đau đầu: Lá ngải cứu non, tươi 150g, trứng gà 2 quả. Cách làm: Lá ngải cứu rửa sạch để ráo thái nhỏ. Cho trứng vào đánh tan cùng với lá ngải cứu đã thái nhỏ, thêm gia vị đem rán với dầu ăn. Ngày làm 1 lần vào buổi sáng hoặc tối. Ăn khi còn nóng. Dùng liên tục trong 7-10 ngày. Hoặc mỗi tháng nên ăn trong 10 ngày có công hiệu giúp lưu thông máu lên não. Bài thuốc này dễ làm và có hiệu quả tốt để trị chứng đau đầu.
- Mụn ở mặt: Dùng lá non làm mặt nạ 20 phút sau đó rửa sạch. Dùng toàn thân thì sắc lấy nước cho vào bồn tắm, chữa rôm sảy, mẩn ngứa, mỏi mệt.
- Mụn trứng cá: Lá ngải cứu tươi giã nát, đắp lên mặt, để khoảng 20 phút, rồi rửa lại mặt, làm liên tục sẽ cho bạn làn da mịn màng và trắng hồng.
- Đau họng: giã ngải cứu lấy nước cốt uống từ từ, ít một, bã với ít dấm đắp bên ngoài cổ, phía trước.
- Ngã tức ngực, ngất xỉu: Lấy ngay ngải cứu tươi giã nhuyễn lấy nước hoà cùng một lít rượu để uống, bã xoa đắp ngoài.
- Đau bụng do lạnh: lá ngải cứu tươi, hơ nóng chườm bụng. Ngày làm 2-3 lần.
- Đau lưng lấy lá ngải cứu xào dấm đặt lên giường, lót lá chuối hoặc nilon nằm ngửa đặt lưng lên ngải cứu. Hoặc nằm sấp, đắp chườm ngải cứu lên vùng thắt lưng.
- Đau lưng do gai cột sống: Ngải cứu tươi 250g, dấm gạo 150ml, miếng vải mỏng, mềm. Ngải cứu rửa sạch, giã nát. Dấm đun cho nóng. Dùng mảnh vải gói ngải cứu giã nát trộn với dấm đã đun nóng đem xoa dọc theo xương sống chừng 15 phút, trong quá trình xoa, nên hâm nóng thuốc thường xuyên. Nên thực hiện vào buổi tối trước khi đi ngủ. Mỗi liệu trình điều trị trong 15 ngày. Và thực hiện liên tục từ 3 – 5 tháng.
- Đau chân: 1 nắm muối, 1 nắm lá ngải, nấu lên, đổ vào thùng, ngâm ngập tới gần đầu gối. Vài lần sẽ bớt đau, đi lại dễ dàng.
- Điều kinh: Một tuần lễ trước dự kỳ có kinh, uống mỗi ngày từ 6 đến 12g (tối đa 20g), sắc với nước hay hãm với nước sôi như hãm chè, chia làm 3 lần uống trong ngày. Có thể uống dưới dạng thuốc bột (5-10g) hay dưới dạng thuốc cao đặc 1-4g. Nếu có thai, thuốc không gây sẩy thai vì không có tác dụng kích thích đối với tử cung có thai.
- Kinh nguyệt kéo dài, máu ra nhiều, người mệt mỏi, đi đứng mệt yếu: hàng tháng đến ngày bắt đầu hành kinh và cả những ngày đang có kinh, uống sáng một lần, chiều một lần theo đơn thuốc sau đây: Lá ngải cứu khô 10g, thêm 200ml nước, còn 100ml, thêm ít đường cho dễ uống.
Có thể cân luôn một lần 20g sắc với 400ml nước, còn 200ml, chia làm 2 lần uống sáng và chiều. Chỉ sau 1-2 ngày thấy kết quả.
- An thai: Những người đang mang thai, nếu thấy có hiện tượng đau bụng, ra máu, 50g lá ngải cứu tươi, rửa sạch, giã nát chắt lấy nước uống, nên cho ít đường dễ uống. Ngày uống 1 lần sau khi ăn sáng.
- Những người kiệt sức hay các bà mẹ đang cho con bú: Lấy 5 cành lá ngải cứu tươi (hoặc khô), rửa sạch, băm nhỏ, pha với một ly nước sôi, uống hàng ngày sẽ mau hồi phục sức khỏe.
- Đi lỵ ra máu, thân nhiệt nóng, viêm xoang mũi, chảy máu cam, phụ nữ bị sản hậu, băng huyết: Dùng 200gr lá thuốc cứu sao vàng, nấu trong 250ml nước còn 100ml. Chia làm 2 phần, uống trong ngày. Có thể tán nhuyễn, hãm 50ml nước sôi với 10gr thuốc cứu bột, uống mỗi lúc khát, liên tục 2 ngày.
- Đau thần kinh tọa, nhức buốt khớp xương chân tay, các đốt xương cột sống, đau đầu hoa mắt, ghẻ lở do nghiện rượu, ngộ độc rượu lạ: Dùng 300gr thuốc cứu rửa sạch, giã nát, thêm 2 muỗng mật ong , vắt lấy nước uống trưa, chiều. Liên tục 1-2 tuần.
- Trẻ em bị sốt cao cũng làm như trên nhưng chỉ để xoa khắp mình, trừ đầu mặt không xoa, không uống.
- Trị ngứa, ghẻ lở, rôm sảy ở trẻ con: Với những trẻ nhỏ thường hay bị rôm sảy, xay nát lá ngải cứu, lọc lấy nước cốt rồi hòa vào nước tắm của trẻ. Làm liên tục trong vài ngày, các nốt ngứa sẽ lặn mất.